Hẹp khúc nối bể thận gây ra thận ứ nước

Thận ứ nước là 1 tình trạng bệnh lý bẩm sinh gây ra do sự hẹp hay tắc nghẽn đường dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang. Nguyên nhân hay gặp nhất ở trẻ sơ sinh là do hẹp khúc nối bể thận niệu quản.

bây giờ, sự lớn mạnh của chẩn đoán tiền sản, trong đấy vai trò siêu âm, đã giúp phát hiện thận nước từ vô cùng sớm, có thể từ tuần lễ thứ 16 của thai kỳ. Điều trị bệnh thận ứ nước độ 1 ở trẻ sơ sinh tùy theo mức độ, có thể phẫu thuật giải phóng nơi bế tắc nhằm hạn chế tác hại đưa tới suy thận.

Thận ứ nước xảy ra ở trẻ sơ sinh như thế nào?

Trong giai đoạn bào thai, quá trình tăng trưởng của hệ niệu có những bất thường như: thiểu sản niệu quản có thể gây nhu động bất thường qua khúc nối. Bất đối xứng của thành cơ có thể ức chế nhu động niệu quản tống xuất nước tiểu ra khỏi bể thận. Sự cắm niệu quản vào bể thận cao quá có thể khiến thay đổi hình dạng và cản trở sự tống xuất nước tiểu từ bể thận xuống niệu quản. Do bất thường của mạch máu cực dưới thận làm cho kẹt niệu quản, cản trở nước tiểu từ trên thận xuống. Mạch máu quanh khúc nối thường có kèm với hẹp khúc nối. Thận xoay và thận di động quá mức có thể gây tắc nghẽn từng hồi phụ thuộc vào vị trí tương đối của thận và niệu quản. Hậu quả nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang bị ứ trệ, lâu ngày làm các bể thận giãn căng và gây ứ nước ở thận. do vậy, trong giai đoạn khám thai, siêu âm có độ phân giải cao có thể phát hiện thận ứ nước.

Chẩn đoán thận ứ nước các nếu siêu trong công đoạn mang thai, thai nhi siêu âm có ghi nhận thận ứ nước, cần tầm soát thêm các chi tiết bất thường nặng nề khác đi kèm, tùy theo mức độ cần có ý kiến bác sĩ sản khoa và bác sĩ niệu khoa đưa ra quyết định nên chấm dứt thai kỳ hay chỉ đơn giản một tình trạng ứ nước thận mức độ nhẹ. khi trẻ sinh ra, nhất thiết siêu âm lại xác định thận ứ nước. nên làm cho thêm xét nghiệm, chụp bàng quang – niệu quản ngược dòng, để loại trừ trào ngược bàng quang – niệu quản. 1 tự nhiên có trào ngược bàng quang niệu quản, chỉ định chụp CT-scan niệu thận, để lượng giá chức năng thận và xác định mức độ tắc nghẽn niệu quản. Đồng thời làm cho những xét nghiệm máu cơ bản. Trên lâm sàng, những trẻ sơ sinh có sốt, kèm tiểu ít, trước đấy tiền sản có than u nuoc, nước ối ít hay thiểu ối, phải nghĩ đến khả năng hẹp khúc nối bể thận nên cho trẻ đi siêu âm ngay.

Theo dõi và điều trị thận ứ nước ở trẻ sơ sinh

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản ở trẻ sơ sinh gây thận ứ nước: siêu âm thận xạ hình thận động sau một tháng, tiếp tục theo dõi vào thời điểm 3 – 6 tháng. Trong giai đoạn làm những xét nghiệm chụp bàng quang – niệu quản, cần phải có sử dụng thuốc kháng sinh để ngừa nhiễm trùng như: Augmentin, Zinnat. Theo dõi và điều trị bảo tồn cho kết quả tốt ở các trẻ có thận ứ nước mức độ nhẹ như ứ nước độ 1 và độ 2, do khả năng tự cải thiện trong công đoạn rỗng hóa. bởi vậy, việc theo dõi còn tiếp tục sau sinh cho đến khi trẻ được một tuổi. những mức độ ứ nước cao, nên làm cho xạ hình thận để đánh giá chức năng và độ tắc nghẽn để có điều trị thích hợp. Phẫu thuật can thiệp ví dụ như cần: khi có biểu hiện, chức năng thận giảm >10% và tình trạng ứ nước thận càng tệ hơn. Với bí quyết phẫu thuật bằng kỹ thuật tạo hình bể thận-niệu quản qua nội soi sau phúc mạc.

Loading Facebook Comments ...